hôm nọ trong lớp học của mình, có một em bé đặt một câu hỏi rất hay, đại ý là:

“các học giả với những lý thuyết học tập (learning theories) khác nhau có mâu thuẫn với nhau về phương pháp học tập (learning methods) không? đến mức họ bài trừ các phương pháp?”

câu hỏi này đến với chúng mình trong bối cảnh thảo luận về các lý thuyết học tập, mà hiện nay phổ biến nhất là behaviorism, cognitivism, constructivism và connectivism, với các định nghĩa khác nhau về học tập, định vị vai trò khác nhau của người giảng dạy và người làm thiết kế trải nghiệm học tập (Instructional Design/ Learning Design)

Nguồn: https://www.structural-learning.com/post/fundamental-theories-of-learning

nhưng phương pháp học tập (learning methods) lại là một phạm trù khác hẳn, khi mà chỉ cần làm vài thao tác tìm kiếm nhanh, các từ khóa trả về hoàn toàn khác, ví dụ, chúng ta sẽ nói đến micro learning (học tập theo chuỗi bài nhỏ), personalized learning (cá nhân hóa lộ trình học tập), blended learning (học tập kết hợp v.v…) –— và ôi làng nước ơi tại sao lại nhiều bài về Learning Styles thế này …

trên thực tế, khi một phương pháp học tập (learning methods) hoặc một lộ trình học tập (learning pathway) được xây dựng – là cả một quá trình tổng hòa, kết hợp và đặt ưu tiên của nhiều lý thuyết học tập (learning theories) khác nhau.

ví dụ, phương pháp học tập “case-based learning” – một phương pháp dạy học định hướng việc học bằng cách đọc, thảo luận và phân tích các tình huống giả định hoặc tình huống thực tế – hoàn toàn có thể là sự kết hợp của cả hai lý thuyết về cognitivism và constructivism:

  • Cognitivism: khi vai trò của người học ở vị trí chủ động – người học phải tự giải mã các tình huống này mà không có hoặc có rất ít sự hướng dẫn của giáo viên.
  • Constructivism: khi vai trò của người học ở vị trí chủ động – người học phải tự xây dựng nên các giải pháp của mình, có thể là một bài thuyết trình, một đề xuất chiến dịch nho nhỏ, hay thậm chí là một sản phẩm thành hình.

___________________

trên khía cạnh lý thuyết, nhiều học giả thường và thậm chí là cần đẩy mạnh những góc nhìn cực đoan để dễ dàng mô tả vấn đề để có thể tổng kết chúng thành lý thuyết. điều này không có nghĩa là họ bác bỏ các phương pháp khác.

trong rất nhiều những bài phân tích về các diễn ngôn hoặc lý thuyết của các học giả, không khó để bắt gặp các đoạn văn đầy tính “cảm thán” như bên dưới:

Academic texts, as Hyland (2005: 66) points out, are therefore not simple representations of reality but representations “always filtered through acts of selection and foregrounding.”

Reporting invariably involves selecting certain aspects of “objective facts” and backgrounding others, selecting a method of analysis and grounding it within one theory rather than another, selecting texts and authors to converse with while omitting others. Hence, an academic text is so much a selective representation of a portion of reality as it is of the writers themselves, as ones that “have something interesting and plausible to say” (Hyland, 2005: 66)

mà mình tạm lược dịch là:

Các văn bản học thuật không phải là những tóm tắt thực tế một cách sơ lược (simple representation of reality) mà là những mô tả đã đi qua các phễu lọc được lựa chọn cẩn thận (selection) và cần làm nổi bật (foregrounding).

Các văn bản học thuật sẽ luôn cần báo cáo rõ là: người viết chọn lọc chỉ một phần của “sự thật khách quan” và bỏ qua các phần nào, hoặc người viết chỉ chọn một phương pháp phân tích nào đó, người viết chỉ chọn gắn phân tích vào một lý thuyết này thay vì các lý thuyết khác, người viết chỉ chọn một số văn bản, tác giả để thảo luận và bỏ qua các tác phẩm khác.

Và vì thế, văn bản học thuật không chỉ là sự mô tả có chọn lọc về thực tế, mà còn thể hiện người viết là người “có điều gì đó thú vị và hợp lý để nói” mà thôi. (Hyland, 2005: 66)

một ví dụ đơn giản nhất để nói về việc từ lý thuyết đến thực tế cách xa nhau, nhưng chúng ta vẫn rất-cần nhìn về lý thuyết đó là… “Cực tính cách Hướng nội” (introvert) “Cực tính cách hướng ngoại(extrovert).

các lý thuyết sẽ mô tả các điểm cực đoan của các phần tính cách này, bỏ qua rất-nhiều những sự thật khách quan là: “hầu hết chúng ta đều có một chút của cả hai thái cực hướng nội và hướng ngoại”.

với mình, những điểm cực này là những “chiếc gương” tuyệt vời để chúng mình soi chiếu, và điều chúng mình cần làm đơn giản là – tỉnh táo – phân tích – kết hợp – ưu tiên – thử và sai và lại thử.

___________________

ấy là chưa kể – các học giả không thật sự “bài trừ” lẫn nhau, mà có khi còn rất thân thiết – trong ngành Learning Science thì có bộ đôi “cụ tổ của phân loại trí thông minh” Howard Gardner (thuyết Multiple Intelligence) và Robert J. Sternberg (Thuyết Theory of Intelligence). hai bác viết sách vẫn rất hay khen nhau, dù quan điểm thì khác biệt 🤣 (Malekmohammad, 2021).

các tranh luận giữa họ, với mình, thuần túy là để tạo ra thêm những góc nhìn mới, phong phú hơn cho cùng một vấn đề.

như một tập podcast nào đó của các anh chị trong đội ngũ Oddly Normal đã từng nói trên Have A Sip với nội dung đại ý là:

“khi các học giả cãi nhau, không ai chết cả.”

cùng với tinh thần này, mình sẽ kết lại bài viết này bằng vài câu phóng tác (mong là) vui vui:

  • “học giả cãi nhau, người học sướng.”
  • “một người (học giả) làm chẳng nên non, ba người chụm lại thành giải Nobel.”
  • “ai ơi chê lý thuyết nghèo, chục năm nghiên cứu, bạc đầu cãi nhau.”
  • lý thuyết đi trước, phương pháp theo sau. học lý thuyết sâu, vẽ ra phương pháp.

Tài liệu tham khảo:

___________________

“học giả cãi nhau, người học sướng” là 1,130 từ của tuần thứ 31 viết đều và (tập tành) viết hay.

đến tuần này, bài viết chỉ còn thuộc thử thách Viết Đều và Hay của Writing On The Net Alumni.

#wotn #vietdeuvahay


Leave a comment